Windows là gì ?
Microsoft Windows là một hệ điều hành do MicroSoft sáng chế. Hệ điều hành với một giao diện hình tượng (graphical user interface – GUI ) có tên là Windows (cửa sổ).
- Một hệ điều hành đa nhiệm (multi tasking) có thể xử lý nhiều chương trình cùng một lúc.
- Cửa sổ dùng biểu tượng (icon) để đại diện cho một đối tượng (object) như thư mục, hồ sơ…
- Một trình tổng hợp của nhửng trình ứng dụng; như trình thảo văn bản, trình đồ họa và các công cụ hữu ích như lịch, đồng hồ.
- Chúng được Microsoft ra mắt lần đầu vào năm 1985 để cạnh tranh với giao diện hình GUI (graphical user interface) của hãng Apple Computers.
- Từ đó đến nay chúng đã chiếm ưu thế trong thị trường máy tính cá
nhân với số lượng được cài đặt khoảng 95%. Vì lý do này, Microsoft đang
có một vị trí độc quyền trong lĩnh vực máy tính cá nhân. Tất cả các
phiên bản gần đây của Windows đều có khả năng làm hệ điều hành. Windows là phần mềm nguồn đóng có bản quyền do công ty Microsoft giữ và kiểm soát việc phân phối.
- Windows khởi đầu được phát triển cho những máy tính tương thích với IBM (dựa vào kiến trúc x86 của Intel), và ngày nay hầu hết mọi phiên bản của Windows đều được tạo ra cho kiến trúc này (tuy nhiên Windows NT đã được viết như là một hệ thống xuyên cấu trúc cho bộ xử lý Intel và MIPS, và sau này đã xuất hiện trên các cấu trúc PowerPC và DEC Alpha. Sự phổ biến của Windows đã khiến bộ xử lý của Intel trở nên phổ biến hơn và ngược lại. Thật vậy, thuật ngữ Wintel đã được sử dụng để miêu tả những máy tính cá nhân đang chạy một phiên bản của Windows.
-
Giao diện
- Bàn nền, (Desktop) nền là nơi dùng để biểu tượng của chương trình để dể dàng xử lý các chương trình
- Nút khởi hành, (Start Button) nơi khởi hành các chương trình mặc định hoặc đã được cài đặt. Những thành phần chính của nút khởi hành là”
- Trình định cấu hình (Settings) nơi định cấu hình máy
- Chương trình (Programs) nơi lưu trử những trình ứng dụng cài trong máy
- Văn kiện (Documents) nơi lưu văn kiện
- Thiết bị ổ đĩa (My Computer)
Chức năng hỗ trợ
Window hổ trợ chức năng
- Cài – Xài Liền (Plug & Play)
- Những phần cứng (hardware) mới cài vào máy có thể chạy liền do máy tự động tìm trình điều khiển (driver) của phần cứng và cài đặt cấu hình cùng cách thức hoạt động của phần cứng.
- Kéo – Nhả (Drag & Drop)
- Bất cứ đối tượng của cửa sổ điều có thể dùng chuột để chọn và di chuyển đến một nơi khác dễ dàng
Các hệ thống tập tin
- FAT12, FAT16: Với HĐH MS-DOS, hệ thống tập tin FAT (File Allocation Table 16 bit),
(FAT16 – để phân biệt với FAT32) được công bố vào năm 1981 đưa ra một
cách thức mới về việc tổ chức và quản lý tập tin trên đĩa cứng, đĩa mềm.
- Tuy nhiên, khi dung lượng đĩa cứng ngày càng tăng nhanh, FAT16 đã
bộc lộ nhiều hạn chế. Với không gian địa chỉ 16 bit, FAT16 chỉ hỗ trợ
đến 65.536 liên cung (cluster) trên một partition, gây ra sự lãng phí dung lượng đáng kể (đến 50% dung lượng đối với những ổ đĩa cứng trên 2 GB).
- FAT32: được giới thiệu trong phiên bản Windows 95 Service Pack 2 (OSR 2), được xem là phiên bản mở rộng của FAT16.
Do sử dụng không gian địa chỉ 32 bit nên FAT32 hỗ trợ nhiều cluster
trên một partition hơn, do vậy không gian đĩa cứng được tận dụng nhiều
hơn. Ngoài ra với khả năng hỗ trợ kích thước của phân vùng từ 2 GB lên 2
TB và chiều dài tối đa của tên tập tin được mở rộng đến 255 ký tự đã
làm cho FAT16 nhanh chóng bị lãng quên. Tuy nhiên, nhược điểm của FAT32
là tính bảo mật và khả năng chịu lỗi (fault tolerance) không cao.
- NTFS (New Technology File System):
được giới thiệu cùng với phiên bản Windows NT 3.1 (phiên bản này cũng
hỗ trợ FAT32). Với không gian địa chỉ 64 bit, khả năng thay đổi kích
thước của cluster độc lập với dung lượng đĩa cứng, NTFS hầu như đã loại
trừ được những hạn chế về số cluster, kích thước tối đa của tập tin trên
một phân vùng đĩa cứng.
-
Phiên bản
windows 1.0
Các phiên bản của Windows là tên gọi chung cho các thế hệ của sản
phẩm phần mềm Windows và có thể được chia thành các thể loại sau:
- Môi trường làm việc 16 bit. Dùng trong những máy vi tính cá nhân (personal computer).
- Các phiên bản đầu tiên của Windows chỉ là giao diện đồ họa hay desktop, phần lớn vì chúng dùng hệ điều hành MS-DOS ở lớp dưới cho các dịch vụ hệ thống tập tin và các tiến trình hệ thống.
- Sau đó, các phiên bản Windows 16 bit đã có dạng tập tin có thể chạy được và tự cung cấp chương trình điều khiển thiết bị (device driver) (cho bo mạch đồ họa, máy in, chuột, bàn phím và âm thanh).
- Khác với DOS, môi trường của Windows cho phép mọi người dùng thi
hành nhiều chương trình đồ họa cùng một lúc. Hơn nữa, chúng đã thực thi
một phối hợp bộ nhớ ảo theo đoạn (segment)
trong phần mềm cho phép GUI thi hành các chương trình lớn hơn bộ nhớ:
các đoạn mã nguồn và nguồn lực được đem vào và bị loại bỏ khi không còn
giá trị nữa hay khi số lượng còn lại trong bộ nhớ bị thấp và các đoạn dữ
liệu được đưa vào bộ nhớ khi một chương trình nào đó trả quyền điều
khiển cho bộ xử lý. Các hệ điều hành này gồm có Windows 1.0, (1985), Windows 2.0 (1987) và Windows/286 (gần giống Windows 2.0).
- Môi trường làm việc 16/32 bit. Dùng trong các máy vi tính hệ Intel Pentium 386 – 486 – 586.
- Windows/386 ra mắt hạt nhân hoạt động trong chế độ bảo vệ và một trình theo dõi máy ảo.
Trong một phiên làm việc của Windows, nó cung cấp các it provided a
device virtualization cho bộ điều khiển đĩa, bo mạch đồ họa, bàn phím,
chuột, bộ định thời và bộ điều khiển ngắt.
Kết quả rõ nhất mà người sử dụng nhìn thấy là họ có thể làm việc tạm
thời với nhiều môi trường MS-DOS trong các cửa sổ riêng (các ứng dụng đồ
họa yêu cầu cửa sổ phải được chuyển về chế độ toàn màn hình).
- Các ứng dụng của Windows vẫn thuộc loại “đa nhiệm cộng tác” trong môi trường chế độ thực. Windows 3.0 (1990) và Windows 3.1 (1992) đã hoàn thiện thiết kế này, đặc biệt là tính năng bộ nhớ ảo và trình điều khiển thiết bị ảo (VxDs) cho phép họ chia sẻ các thiết bị dùng chung (như đĩa cứng, đĩa mềm…) giữa các cửa sổ DOS.
- Quan trọng nhất là các ứng dụng Windows có thể chạy trong chế độ bảo vệ 16-bit (16-bit protected mode)
(trong khi Windows đang chạy trong chế độ chuẩn hay chế độ 386 nâng
cao), cho phép người sử dụng truy cập đến một vài megabyte bộ nhớ mà
không phải tham gia vào quá trình quản lý bộ nhớ ảo. Các chương trình
này vẫn chạy trong cùng một không gian địa chỉ, trong đó bộ nhớ đã được
phân đoạn để chia thành các mức bảo vệ riêng, và vẫn hoạt động “đa nhiệm
cộng tác”.
- Trong phiên bản Windows 3.0, Microsoft đã chuyển các tác vụ quan trọng từ C sang assembly, làm cho phiên bản này chạy nhanh hơn và ít tốn bộ nhớ hơn các phiên bản trước đó.
- Hệ điều hành 16/32 bit. Bằng việc công bố khả năng
truy cập file 32-bit trong Windows for Workgroups 3.11, Windows cuối
cùng đã chấm dứt phụ thuộc vào DOS trong việc quản lý hồ sơ (file). Ngoài ra, Windows 95 cũng đưa ra hệ thống “Tên file dài”, do vậy hệ thống tên file 8.3 của DOS chỉ còn vai trò trong đoạn mã khởi động nạp hệ điều hành.
- Đặc điểm mang tính cách mạng nhất trong phiên bản này là khả năng
chạy các chương trình giao diện đồ họa 32-bit đồng thời, trong khi các
chương trình này lại chia thành các phân tuyến (thread) chạy song song với nhau.
- Microsoft đã đưa ra 3 phiên bản của Windows 95 (phiên bản đầu tiên
năm 1995, các phiên bản sửa lỗi được đưa ra năm 1996 và 1997 chỉ được
bán cho nhà sản xuất máy tính, được bổ sung thêm một vài tính năng mới
như hỗ trợ FAT32).
- Hệ điều hành tiếp theo của Microsoft là Windows 98;
có 2 phiên bản (bản đầu tiên năm 1998, và bản thứ hai là “Windows 98
Second Edition”, năm 1999). Trong năm 2000, Microsoft đưa ra Windows Me, với mục tiêu cố gắng thu hẹp khoảng cách giữa Windows 98 SE và Windows NT, bao gồm một vài tính năng mới như System Restore,
cho phép người sử dụng đưa máy tính của mình trở lại trạng thái trước
đó. Dù vậy, đó vẫn không phải là một tính năng được chấp nhận rộng rãi
vì đã có nhiều người sử dụng gặp phải vấn đề. ME được coi là sự thay thế
tạm thời trong việc hợp nhất hai dòng sản phẩm này. Microsoft đã đợi
một khoảng thời gian ngắn để Windows Millennium trở nên phổ biến trước
khi công bố phiên bản Windows tiếp theo – Windows XP.
- Hệ điều hành 32 bit ban đầu được thiết kế và quảng bá là các hệ thống có độ tin cậy cao và đặc biệt là không thừa kế từ DOS.
- Phiên bản đầu tiên được đưa ra là Windows NT 3.1 vào năm 1993, được
đánh số “3.1″ để chỉ thị ngang hàng với Windows 3.1 và hơn 1 cấp so với
hệ điều hành OS/2 2.1, hệ điều hành của IBM do Microsoft đồng phát triển và là đối thủ chính của dòng Windows NT tại thời điểm đó.
- Phiên bản tiếp theo là Windows NT 3.5 (1994), NT 3.51 (1995), và cuối cùng NT 4.0 (1996) đã có giao diện của Windows 95.
- Sau đó Microsoft bắt đầu chuyển sang việc hợp nhất hai dòng hệ điều
hành dành cho cá nhân và cho doanh nghiệp. Thử nghiệm đầu tiên, Windows 2000,
đã thất bại, và được phân phối là một phiên bản dành cho doanh nghiệp.
Phiên bản Windows 2000 cho cá nhân, tên mã là “Windows Neptune” bị hủy
bỏ và Microsoft đã thay thế bằng Windows ME. Mặc dù vậy, “Neptune” vẫn
được tích hợp vào dự án mới, “Whistler”, để sau đó trở thành Windows XP.
- Sau đó, hệ điều hành mới, Windows Server 2003, đã mở rộng dòng sản phẩm cho doanh nghiệp này. Cuối cùng, hệ điều hành sắp được ra mắt Windows Vista sẽ hoàn thiện các tính năng còn thiếu của các sản phẩm trên. Với Windows CE, Microsoft cũng đã ngắm tới thị trường di động và các thiết bị cầm tay, cũng là một hệ điều hành 32-bit.
- Hệ điều hành 64 bit, một loại hệ điều hành mới nhất, được thiết kế cho kiến trúc AMD64 của AMD, IA-64 của Intel, và EM64T (Intel® Extended Memory 64 Technology).
- Dòng sản phẩm Windows 64-bit bao gồm “Windows XP Itanium”, “Windows
Professional x64 Edition” và “Windows Server 2003″. “Windows XP
Professional” và “Windows Server 2003 x64 Edition” được ra mắt vào 25
tháng 4 năm 2005. Windows XP Itanium đã được đưa ra trước đó, năm 2002.
- Một số dấu hiệu cho thấy Windows Vista, được coi là sự kế vị của Windows XP, sẽ có cả hai phiên bản 32-bit và 64-bit.
No comments:
Post a Comment